Ba đồng ghi-nê: Nhiều luận điểm vững chắc của Virginia Woolf về bình đẳng giới

Virginia Woolf, nhũ danh là Adeline Virginia Stephen, sinh ngày 25-1-1882 tại London. Bà là tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh.Virgina Woolf không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối cùng viết về nữ quyền.

I. TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

1.1.  Sơ lược tiểu sử tác giả

Virginia Woolf, nhũ danh là Adeline Virginia Stephen, sinh ngày 25-1-1882 tại London. Bà là tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh. Virginia Woolf sinh ra trong một gia đình danh giá, bố mẹ bà có tư duy phóng khoáng. Năm 1912, bà kết hôn với Leonard Woolf, một nhà văn và là một thành viên trong nhóm Bloomsbury gồm các nhà trí thức và nghệ sĩ. Năm 1915 bà cho xuất bản tiểu thuyết đầu tiên “The Voyage Out”. Chồng bà là người Do Thái, đang có nguy cơ bị Phát xít bắt giữ và ngôi nhà của ông bà ở London bị phá hủy trong một cuộc không kích. Những biến cố đó dường như đã làm trầm trọng thêm căn bệnh trầm cảm mà bà đã phải chịu đựng suốt đời và đã dẫn bà đến hành động tự tử vào năm 1941.

Tác phẩm của bà gồm có các tiểu thuyết: The Voyage Out – 1915; Night and Day – 1919; Jacob’s Room – 1922; Mrs. Dalloway – 1925; To The Lighthouse – 1927; Orlando: A Biography- 1928; The Waves – 1931; The Years – 1937; Between The Acts – 1941. Bà cũng viết các tiểu luận, trong đó nổi bật nhất là  A Room of One’s Own (1929) và Three Guineas (1938). Thêm vào đó, bà đã viết các tập truyện ngắn, tiểu sử, kịch và thư từ.

Virginia Woolf được đánh giá là một trong các tác giả vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đồng thời cũng là một nhân vật chủ chốt trong lịch sử văn chương Anh ngữ với tư cách một người bênh vực nữ quyền và là một trong những người sáng lập nên trào lưu Hiện đại (modernism) cùng với T.S. Eliot, Ezra Pound, James Joyce và Gertrude Stein.

1.2. Bối cảnh lịch sử vào thời kỳ tác phẩm ra đời

Virgina Woolf không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối cùng viết về nữ quyền.

Nếu ôn lại lịch sử xa xưa, theo Wikipedia, ta thấy có bà Olympe de Gouges (1748-1793), người Pháp, được coi là nhà tiên phong của phong trào nữ quyền. Bà viết nhiều bài viết ủng hộ các quyền dân sự và chính trị của phụ nữ và yêu cầu bãi bỏ chế độ nô lệ da đen. Năm 1789, khi bản “Tuyên ngôn về quyền con người và Công dân” được thông qua, bà de Gouges nghĩ đến sự nghiệp của người phụ nữ bị Hội đồng công ước lãng quên, nên vào năm 1791, bà viết bản “Tuyên ngôn về các quyền của phụ nữ và nữ công dân”, trong đó bà khẳng định: «Nữ giới sinh ra và sống hoàn toàn bình đẳng với nam giới  về các quyền và nghĩa vụ”. Bà bị lên đoạn đầu đài vào năm 1793, ở tuổi 45.

Bà Mary Wollstonecraft  (1759-1797), người Anh, thường được mệnh danh là “nhà nữ quyền đầu tiên” hoặc là “người mẹ của thuyết nữ quyền”. Quyển tiểu luận  của bà về quyền của phụ nữ, và đặc biệt là về vấn đề giáo dục của phụ nữ, “Bản chứng minh các quyền của phụ nữ “ (“A Vindication of the Rights of Woman”), là một tác phẩm cổ điển nêu lên ý tưởng về thuyết nữ quyền. Trong tác phẩm này bà lý luận rằng sự thấp kém của phụ nữ không do bẩm sinh mà là hậu quả của một quá trình giáo dục lệch lạc do nam giới áp đặt lên phụ nữ. Do đó, bà gợi ý cả nam và nữ nên cùng được hưởng một nền giáo dục dựa trên lý trí và bà hình dung ra một trật tự xã hội được thiết lập dựa trên lý trí và thoát khỏi mọi định kiến. 

Bà Bertha von Suttner (1843- 1914) là một tiểu thuyết gia người Áo. Năm 1889, bà phát hành tạp chí Die Waffen nieder! ("Hãy buông vũ khí xuống!") và vào năm 1891 bà thành lập Tổ chức Hòa bình Áo. Năm 1905, bà đã được trao giải Nobel Hòa bình.

Bà Emmeline Pankhurst (1858-1928) là người thành lập Liên đoàn Xã hội và Chính trị Phụ nữ (Women’s Social and Political Union) đấu tranh giành quyền bầu cử cho phụ nữ ở nước Anh.

Từ sau E. Pankhurst đến ngày nay, ta thấy ngày càng có nhiều phụ nữ các nước đấu tranh cho nữ quyền.

1.3. Nhân vật và vấn đề trọng tâm của tác phẩm

Tác phẩm mang hình thức là một lá thư mà bà viết để trả lời một người đàn ông. Bà mô tả một người đàn ông đi hỏi ý kiến một phụ nữ về cách thức để ngăn chặn chiến tranh. Do đó, tác phẩm này chỉ có hai nhân vật chính là người đàn ông đã gửi thư đi và người đàn bà (là tác giả) đang viết thư trả lời. Bà mô tả người đàn ông: trung niên, luật sư, thành đạt, có gia đình và nhà cửa ổn định, làm chủ một văn phòng luật sư tư nhân; nhưng thay vì thỏa mãn cuộc sống cá nhân, ông lại trăn trở vì chuyện quốc gia đại sự: ông muốn ngăn chặn chiến tranh.

Ta thấy bà mô tả những điều mà xã hội thời ấy cho là khác thường: đàn ông đi hỏi ý kiến một phụ nữ; nam giới đã thành đạt, nhưng không muốn hưởng thụ cuộc sống cá nhân, mà ông lại trăn trở vì chuyện quốc gia đại sự. Rồi bà đề cập ngay vào vấn đề chính: Tuy nhìn tổng quát thì bà và người đàn ông kia có những nét tương đồng: cùng tầng lớp (trí thức, khá giả, có người hầu, cùng làm ăn kiếm sống), nhưng khi phân tích kỹ thì nam và nữ có những điểm khác nhau.

II. CÁC LUẬN ĐIỂM VỀ  BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA VIRGINIA WOOLF

2.1. Sự tương đồng và sự khác biệt (Sameness vs. difference)

Bà đặt vấn đề khá trực tiếp, không tránh né, chỉ cần viết tới trang thứ  4 và 5 của tác phẩm, bà đã nêu ngay ra một vấn đề quan trọng, dễ gây phản ứng nơi người đọc, đó là sự khác biệt giữa nam và nữ. Rồi bà xác định nguyên nhân của sự khác biệt đó là do gia đình đầu tư rất nhiều tiền bạc vào việc học và rèn luyện cho con trai: “việc học của ông không chỉ là học trong sách vở; những trò chơi trui rèn cơ thể ông; bằng hữu dạy cho ông nhiều hơn những cuốn sách hay những trò chơi. Việc trò chuyện với họ mở rộng tầm nhìn của ông và làm phong phú tâm trí ông. Ông đi du lịch vào những kỳ nghỉ lễ; thủ đắc một thị hiếu về nghệ thuật; một tri thức về chính trị ở hải ngoại” (tr.20), trong khi con gái chỉ nhận được “một nhánh giáo dục đến từ cái tên gọi “giáo dục không phải trả tiền”” (tr.23), và bà kết luận: “nền học vấn đó tạo nên sự khác biệt” (tr. 22) giữa nam và nữ. Thêm vào đó, “pháp luật và thực hành đã phát triển sự khác biệt” (tr. 23). Sự khác biệt này dẫn tới hệ quả là: “dù chúng ta nhìn vào cùng những điều như nhau, chúng ta nhìn thấy chúng một cách khác biệt nhau” (tr.21).

Tuy nhiên, để người đọc không cảm thấy sự chia rẽ và đối kháng giữa nam và nữ, bà lại nêu ra những điểm tương đồng giữa nam và nữ, vì theo bà dù có cái nhìn, có quan điểm khác nhau, nam và nữ vẫn có những điều giống nhau: “đàn ông và phụ nữ, tại đây và vào lúc này, có thể vận dụng ý chí của họ; họ không phải là những con tốt và những con rối nhảy múa trên một sợi dây do những bàn tay vô hình điều khiển. Họ có thể hành động và tư duy cho chính họ. Có lẽ thậm chí họ có thể tác động tới những ý tưởng và hành động của nhiều người khác” (tr. 23). Do đó, nam và nữ vẫn có thể hợp tác với nhau để làm một công việc chung, đó là ngăn ngừa chiến tranh. 

Bà phân tích sâu hơn về từng giới tính để thấy cũng có sự khác nhau giữa những người cùng giới tính với nhau. Trong số những người đàn ông, quan điểm của người lính, thi sĩ, chánh án tối cao và giám mục có sự khác biệt (tr.26-30). Đối với những người đàn bà cũng vậy, có sự khác biệt lớn giữa con gái của người đàn ông trí thức, phu nhân/ nữ công tước và phụ nữ thuộc giai cấp lao động (tr.29-37). Với “sự giàu có và địa vị”, các “vị đại phu nhân” có tầm ảnh hưởng chính trị to lớn. Còn các phụ nữ thuộc giai cấp lao động có thể “từ chối việc chế tạo đạn dược hay giúp sản xuất hàng hóa” (tr.35-37). Theo bà, những người con gái của người đàn ông trí thức là tầng lớp thiệt thòi nhiều nhất, vì: “những kẻ có thế lực là con gái của những người quí tộc chứ không phải con gái của những người trí thức” (tr.38) và họ “còn yếu hơn những người phụ nữ thuộc giai cấp lao động” (tr.35), tóm lại họ chỉ “là một đứa con ghẻ của nước Anh” (tr.38).

Với vị thế của mình là “một đứa con ghẻ của nước Anh”, bà liên tưởng đến vị thế cũng thiệt thòi không kém của những người đàn ông có nguồn gốc là người Do Thái. Vì vậy, khi phụ nữ “chiến đấu chống sự độc tài của nhà nước gia trưởng cũng như ông đang chiến đấu với sự độc tài của nhà nước phát xít. Như vậy đơn giản là chúng ta đang tiến hành cùng một trận chiến” (tr.250). Bà tin tưởng ở nam giới: “Chúng tôi có sự đảm bảo của ông rằng ông đang chiến đấu cùng chúng tôi chứ không phải chống lại chúng tôi” (tr. 250). Nhưng bà vẫn còn do dự, đắn đo vì vẫn còn đó những khác biệt giữa nam và nữ: “sự khác biệt chủ yếu giữa chúng tôi, những kẻ nằm ngoài lề xã hội và các ông, những kẻ nằm trong lòng xã hội” (tr.270). Trong khi nam giới “chiến đấu để bảo vệ nước Anh khỏi sự thống trị của ngoại bang”, thì đối với nữ giới, “theo luật pháp cô ta trở thành một người nước ngoài nếu cô ta cưới một người nước ngoài”, nghĩa là nữ giới “không có quê hương”, “với tư cách một phụ nữ, quê hương của tôi là toàn thế giới” (tr.262). Bà tự nhận mình là “kẻ ngoại cuộc” cho nên dù “có cùng những mục đích” như nam giới nhưng con gái của người đàn ông trí thức sẽ hành động “bằng những phương tiện khác”, vì nữ giới có “một truyền thống khác, một nền giáo dục khác và các giá trị khác” (tr.270). Bà kết luận một cách cương quyết: “Chúng tôi có thể giúp ông ngăn chặn chiến tranh hiệu quả nhất không phải bằng cách tham gia hiệp hội của ông mà bằng cách ở lại bên ngoài hiệp hội của ông nhưng hợp tác với mục tiêu của nó” (tr.324).

2.2. Tầm quan trọng của việc cung cấp giáo dục đại học cho nữ giới

Bà tin tưởng vào “giá trị của giáo dục nằm trong số những giá trị lớn nhất của con người” (tr.56), và “tiến trình bí ẩn mất tới khoảng ba năm để hoàn thành và tốn một khoản tiền mặt lớn, và biến những con người non nớt, thô thiển thành sản phẩm hoàn thiện – một người đàn ông hoặc phụ nữ trí thức” (tr.56). Tuy nhiên, có một điều bất bình đẳng là: “nhóm của ông đã được giáo dục ở những trường trung học tư thục và trường đại học trong năm hoặc sáu trăm năm, nhóm chúng tôi trong sáu mươi năm” (tr.44). Chính vì có sự khác biệt đó, mà nữ giới cần có “một sự đào tạo khác và một truyền thống khác đặt vào tầm với của chúng tôi dễ dàng hơn là vào tầm với của các ông” (tr.52).

Như đã nêu ở phần “Sự tương đồng và sự khác biệt”, nguyên nhân của bất bình đẳng trong giáo dục là do các gia đình chú trọng đầu tư vào con trai nhiều hơn con gái. Ngoài ra, nguyên nhân của bất bình đẳng trong giáo dục cũng có một phần do sự tác động của tôn giáo. “...người ta nói với tôi rằng khát khao học hỏi ở những người phụ nữ là chống lại ý Chúa…” (tr.58), giáo dục “là tốt nếu nó sản sinh ra một niềm tin vào Giáo hội Anh; xấu nếu nó sản sinh ra một niềm tin vào Giáo hội La Mã” (tr.59), và bà chứng minh bằng một trường hợp cụ thể: “gần 250 năm trước”, bà Mary Astell rất thích cho nữ giới đi học, bà “có một niềm khao khát ngoan cố và có lẽ phi tín ngưỡng” , bà đã “đề nghị thành lập một trường cao đẳng cho phụ nữ” và được Công chúa Anne đồng ý “sẵn sàng tặng cho bà 10.000 bảng – một khoản tiền rất lớn”, nhưng lại bị Giáo hội can thiệp, cuối cùng “số tiền đó được chi cho chuyện khác; ngôi trường không bao giờ được thành lập” (tr.59). Thêm vào đó, chính quyền cũng ban hành những giới hạn: “Ở Cambridge, năm 1937, các trường nữ (…)không được phép là thành viên của trường đại học; và số lượng con gái của những người đàn ông trí thức được phép tiếp nhận một nền giáo dục đại học vẫn còn bị giới hạn nghiêm ngặt; dù cả hai giới đều đóng góp cho các ngân quỹ của trường” (tr.67). Chính vì vậy, vào thời đó, nữ giới ít được học ở một ngôi trường chính thức mà họ thường chỉ được học ở nhà, bà dẫn chứng bằng trường hợp của Mary Kingsley: “được phép học tiếng Đức là TẤT CẢ nền học vấn phải trả tiền mà tôi từng có” (tr.19).

Đối lập với việc ngăn cấm nữ giới đi học, bà cũng nêu ra rất nhiều trường hợp khuyến khích nữ giới đi học. Nhiều người đã hiến tặng tiền của và đất đai để xây dựng trường cho nữ sinh, cũng có người “hiến tặng sự phục vụ của mình với tư cách một cô giáo không hưởng lương. Và bản thân các sinh viên cũng đã quyên góp – trong chừng mực khả năng của họ – bằng cách đóng những cái giường và rửa bát đĩa, bằng cách từ bỏ những thú vui và sống với thức ăn đơn giản” (tr.64).

Bà kết luận: “Chúng tôi phải giúp xây dựng lại ngôi trường đại học mà, dù có thể không hoàn hảo tới đâu, vẫn là khả năng thay thế duy nhất cho nền giáo dục tư gia” (tr.85) vì “nếu không có phương tiện đào tạo nào cho họ để họ kiếm sống (…) họ không thể giành được những sự bổ nhiệm. Nếu họ không giành được sự bổ nhiệm, họ sẽ một lần nữa phụ thuộc vào cha và anh em của họ (…) một cách ý thức và vô ý thức, [họ sẽ] ủng hộ cho chiến tranh” (tr.78-79).

2.3. Tầm quan trọng của việc cung cấp nghề nghiệp chuyên môn cho nữ giới

Bà thuật lại lịch sử về nghề nghiệp của nữ giới: “Hôn nhân, cái nghề nghiệp lớn lao mở ra cho giai tầng của chúng tôi kể từ thuở hồng hoang cho tới năm 1919” (tr.23), và nữ giới chỉ vừa mới được trao quyền kiếm sống “chưa đầy hai mươi năm trước, vào năm 1919, bởi một đạo luật bãi bỏ sự cấm đoán về nghề nghiệp” (tr.40). Còn từ xa xưa thì “hôn nhân là nghề nghiệp duy nhất mở ra đối với chúng tôi” (tr.48), ngoài ra nữ giới là con gái của những người đàn ông trí thức không còn nghề gì khác. Chính vì vậy mà người ta cho rằng nữ giới cũng chẳng cần phải đi học: “hôn nhân – đã được duy trì để không cần tới học vấn” (tr.58).

Bà nêu lên những đóng góp to lớn của nữ giới nhưng những đóng góp này đã không được xã hội thừa nhận: “không có một văn phòng nào như văn phòng của một bà mẹ; trong tất cả những mức lương đó không có mức lương nào như mức lương của một bà mẹ (…), nhưng những bà vợ, những bà mẹ và những cô con gái làm việc suốt ngày và hàng ngày, mà nếu không có công việc của họ,  Nhà nước sẽ sụp đổ và tan rã thành từng mảnh, nếu không có công việc của họ, con trai của các ông, thưa ông, sẽ ngưng tồn tại” (tr.139-140).

Chính vì có sự bất bình đẳng giới về việc làm, nên nữ giới cần phải đấu tranh. Trước đây, nữ giới đã phải đấu tranh liên tục trong suốt 150 năm để đạt được quyền bầu cử (tr.38), nhưng bên cạnh đó còn có “một quyền khác có giá trị lớn lao đối với con gái của những người đàn ông trí thức” đó là “quyền kiếm sống” (tr.40). Từ lúc được quyền làm việc có lương, cô vui mừng “xoay tròn đồng xu thiêng liêng trong tay mình” (tr. 41), “một đồng sáu xu mới kẻng mà dưới ánh sáng của nó mọi ý nghĩ, mọi cảnh tượng, mọi hành động, đều trông có vẻ khác đi” (tr.40). Đó chính là vì “cô ta không còn cần dùng tới sự quyến rũ của mình để kiếm tiền từ cha mình hay anh mình. Vì nó nằm ngoài quyền lực trừng phạt về mặt tài chính của gia đình, cô ta có thể bày tỏ những ý kiến của mình (…), cô ta có thể tuyên bố những thứ thích và không thích đích thực của mình (…), cô ta đã sở hữu được một tầm ảnh hưởng bất vụ lợi” (tr.43). Giờ đây nữ giới đã có được “một thứ vũ khí mới” (tr.43) để giúp nam giới ngăn chặn chiến tranh.

Tuy nhiên, nữ giới chỉ mới dành được quyền có việc làm được trả lương, trên thực tế mức lương của nữ giới rất eo hẹp so với nam giới. Ngày nay, các ngành nghề chuyên môn “mở ra cho cả nam lẫn nữ một cách bình đẳng. Và tiền lương chi trả cho những ai làm việc trong các cơ quan đó lấy ra từ tiền công cộng được cung cấp bởi cả hai giới một cách bình đẳng. Và thuế thu nhập áp dụng cho các khoản lương đó (trong số các khoản khác) hiện nay là vào khoảng năm shiling trên một bảng” (tr.124). Tuy nhiên, trên thực tế, “tất cả những cái tên gắn liền với những khoản lương cao, đều là tên của các quý ông” (tr.126) và nam giới thường có mức lương khoảng 1.000 – 3.000 bảng một năm (tr.124), trong khi “những người mà tên có đính kèm chữ “Cô” có vẻ như không nằm trong khu vực bốn con số” (tr.127). Nữ giới phải chịu mức lương thấp và còn bị đánh giá thấp: “250 bảng hoàn toàn là một thành tựu, thậm chí đối với một phụ nữ có kỹ năng cao với nhiều năm kinh nghiệm” (tr.125).

Bà từng bước lý giải sự bất bình đẳng trong mức lương giữa nam và nữ. Trước hết đó là do trình độ học vấn của nữ giới, vì các trường đại học như Oxford và Cambridge “hạn chế gắt gao con số các cô con gái của những người đàn ông học thức, những kẻ được phép tiếp nhận một nền giáo dục đại học. Thứ hai, số lượng các cô con gái ở nhà để chăm sóc những bà mẹ già nhiều hơn là số lượng các cậu con trai ở nhà để chăm sóc cho các ông bố già. Vì vậy, số lượng nữ tham gia thi tuyển công chức ít hơn số lượng nam. Thứ ba, chúng ta có thể giả đoán một cách công bằng rằng 60 năm chọn lọc thông qua thi tuyển không hiệu quả bằng 500 năm. Thi tuyển công chức là một cuộc thi cứng nhắc; chúng ta có thể mong đợi một cách hợp lý rằng có nhiều nam thi đậu hơn là nữ” (tr.126).

Bà kết luận rằng nữ giới cần phải có nghề nghiệp chuyên môn và mức lương bình đẳng với nam giới, vì những điều đó sẽ giúp cho nữ giới có được một “tầm ảnh hưởng của một ý kiến độc lập dựa trên một thu nhập độc lập” (tr.145), nữ giới sẽ được tự do nêu lên ý kiến chống chiến tranh.

2.4. Tầm quan trọng của việc bảo vệ văn hóa và tự do trí tuệ của nữ giới

Sau khi đã đấu tranh cho nữ giới có được học vấn ở trình độ đại học và có được việc làm với mức lương đủ sống, bà suy nghĩ đến việc bảo vệ văn hóa và tự do trí tuệ: “cô con gái của một người đàn ông trí thức, kẻ có đủ tiền sinh sống và có thể đọc và viết cho chính niềm vui của mình” (tr.237).

Theo bà: “tự do trí tuệ có thể định nghĩa là quyền được nói hay viết những gì bạn nghĩ bằng những ngôn từ của chính bạn, theo cách của chính bạn” (tr.230). Bà cũng giúp ta hiểu rõ hơn khái niệm này bằng cách bà đưa ra các khái niệm phản nghĩa, đó là “bán óc não”, “đánh đĩ văn hóa” và “nô lệ trí tuệ” (tr.231). Bà giải thích thật chi tiết: “người ta cho việc một phụ nữ bán thân thể của mình mà không có tình yêu là đáng ghê tởm, nhưng việc trao nó cho người chồng mà cô ta yêu là đúng, vì thế bà sẽ đồng ý rằng bán trí tuệ của mình mà không có tình yêu là sai, nhưng trao nó cho nghệ thuật mà bà yêu là đúng (…) Nhưng bán một bộ não thì tệ hơn là bán một thân xác, vì khi người bán thân đã bán lạc thú nhất thời của mình, cô ta ý thức rõ rằng vụ việc sẽ kết thúc ở đó. Nhưng khi một người bán óc não đã bán bộ não của mình, tình trạng thiếu máu của nó và kết quả bệnh hoạn được thả lỏng ra khắp trần gian để lây nhiễm và gây đồi phong bại tục và gieo những hạt giống bệnh hoạn lên những người khác” (tr.234).

Bà cũng hướng dẫn cụ thể rằng ta phải làm gì để tránh “sự đánh đĩ óc não”, đó là từ chối “viết những gì tôi không muốn viết hoặc phát ngôn chỉ vì tiền, (…) khước từ mọi nhà xuất bản, biên tập viên, nhân viên thu xếp diễn thuyết, vân vân... đã mua chuộc tôi viết hay nói những điều tôi không muốn viết hay nói vì tiền” (tr.235), ta cần phải “tuyệt đối khước từ (…) những huy chương, những vinh dự, những bằng cấp (…),  vì tất cả chúng là những dấu hiệu cho thấy văn hóa đã bị đánh đĩ và tự do trí tuệ đã bị giam cầm.” (tr.236).

Bà lại đặt ra thêm một tình huống khác, đó là nếu ta là “một độc giả, chứ không phải một tác giả”, thì ta phải “từ chối đọc (…); không đặt mua những tờ báo cổ động cho tri thức nô lệ; không dự những buổi diễn thuyết đánh đĩ văn hóa” (tr.243).

Tóm lại, “con gái của những người đàn ông trí thức sử dụng thái độ lãnh đạm này sẽ giúp ngăn chặn chiến tranh một cách hữu hiệu” (tr.263).

2.5 Tính chất toàn cầu của cuộc đấu tranh vì nữ quyền

Bà khuyến khích phụ nữ nên tự sáng tạo ra những cách làm mới, để được phù hợp với phụ nữ chứ đừng bắt chước theo nam giới: “Cảm thức của một phụ nữ về các giá trị (…), khác biệt hiển nhiên với nhận thức của một người đàn ông. Do đó, rõ ràng một phụ nữ gặp bất lợi và chịu sự ngờ vực khi cạnh tranh trong một lĩnh vực hoạt động do đàn ông tạo ra. Hơn bao giờ hết, hiện nay phụ nữ có cơ hội để tạo dựng một thế giới mới mẻ và tốt đẹp hơn, nhưng với sự bắt chước mù quáng những người đàn ông, họ đã lãng phí cơ may của mình” (tr.174).

Bà thường xuyên nêu lên những tấm gương sáng của “người phụ nữ thời Victoria”, những phụ nữ chỉ biết cống hiến công việc của mình cho xã hội mà không cần được xã hội công nhận, “với những động cơ thuần khiết, họ tỏa sáng “trong trẻo như pha lê” (tr.179-180). Chẳng hạn như: “Josephine Butler (…) đã dẫn dắt chiến dịch chống Đạo luật về các bệnh truyền nhiễm  tới thắng lợi, sau đó là chiến dịch chống việc mua bán trẻ em “vì những mục đích bỉ ổi”” (tr.179).

Bà định hướng đấu tranh cho nữ giới, bà cũng hướng dẫn chi tiết cho nữ giới các cách thức đấu tranh: “rõ ràng nó là loại thực nghiệm mà đại đa số những kẻ ngoại cuộc có thể thực hành với rất ít khó khăn hay nguy hiểm. Không có mặt ở nơi nào đó – điều đó dễ hơn nói lớn tiếng ở một cửa hàng phúc thiện, hay soạn thảo những điều luật độc đáo cho việc thi đấu thể thao” (tr.278-279).

Bà luôn ước ao: “‘Nếu tôi là một người đàn ông, tôi sẽ không làm việc để trở nên giàu có, danh vọng hay để bỏ lại sau lưng mình một gia đình giàu có. Không, tôi nghĩ tôi sẽ làm việc cho đất nước tôi, và biến nhân dân thành người thừa kế của tôi.’”(tr.179). Bà cũng mở rộng mối quan tâm của mình đến toàn thể nhân loại: “bà giúp đỡ cho tất cả mọi người có phẩm chất đúng đắn, thuộc bất kỳ giới tính, giai cấp hay màu da nào, được đi vào nghề chuyên môn của bà” (tr.186).

Tóm lại, xuyên suốt tác phẩm này, Virginia Woolf truyền cho ta một thông điệp là khi nữ giới có được bình đẳng giới, nam giới không bị thiệt thòi gì, mà trái lại nam giới còn được nữ giới trợ giúp đắc lực. Bình đẳng giới không chỉ là điều tốt, có lợi riêng cho nữ giới mà còn có lợi cho toàn thể nhân loại nói chung: “Bằng cách bảo vệ các quyền cá nhân; bằng cách chống đối sự độc tài; bằng cách đảm bảo những lý tưởng dân chủ về cơ hội bình đẳng cho tất cả, (…) nền hòa bình dài lâu của thế giới có thể được đảm bảo.”  (tr.247).

III. VĂN PHONG CỦA VIRGINIA WOOLF

Tác phẩm này cho ta thấy khả năng viết văn tài tình của Virginia Woolf.

Bà dùng cách hành văn nghị luận như một tuyên ngôn dõng dạc khi cần phải nêu lên những điều hiển nhiên: “tầm ảnh hưởng của một ý kiến độc lập dựa trên một thu nhập độc lập” (tr.145), cũng như những điều cần phải xóa bỏ trong một xã hội văn minh: “Trường đại học được thành lập chỉ vì lợi ích của những người đàn ông; và chỉ những người đàn ông được pháp luật cho phép hưởng lợi từ các tài sản của nó” (tr.160).

Đối với từng ý kiến đưa ra, bà đều kèm theo những dẫn chứng bằng dữ liệu thực tế một cách khoa học. Bà tra cứu nhiều dữ liệu khác nhau, từ lịch sử nước Anh và thế giới, tiểu sử cá nhân, báo chí, hình ảnh chụp trên báo, niên giám, tài liệu … ., đôi khi kèm theo những con số cụ thể, để chứng minh những điều bà nói là sự thật: “chúng ta hãy làm theo ông và kiểm tra sáu mẫu tự ABC đầu tiên. Dưới mẫu tự A có Bộ Hải quân, Bộ Không quân và Bộ Nông nghiệp. Dưới mẫu tự B có Thông tấn xã Vương quốc Anh (BBC); dưới mẫu tự C có Bộ Thuộc địa và Các Ủy viên Từ thiện; dưới mẫu tự D có Bộ Các Lãnh thổ Tự trị và Ủy ban Phát triển; dưới mẫu tự E có Các Ủy viên Giáo hội và Ủy ban Giáo dục” (tr.123).

Bà dùng nhiều hình ảnh cụ thể để minh họa ý tưởng của bà, giúp người đọc dễ hiểu hơn: “Chúng ta phải dập tắt ánh sáng hào nhoáng thô tục của quảng cáo và quảng bá, không chỉ vì ánh đèn sân khấu có khuynh hướng được duy trì trong những bàn tay bất tài, mà còn vì tác động tâm lý của sự soi sáng đó lên những ai tiếp nhận nó. Hãy nghĩ xem, lần tới khi ông lái xe dọc theo một con đường nông thôn, thái độ của một con thỏ nằm trong quầng sáng của một bóng đèn trước – đôi mắt đờ dẫn của nó, những bàn chân cứng đờ của nó” (tr.272).

Bà cũng có những suy nghĩ thâm thúy và diễn đạt các ý tưởng của mình một cách khéo léo xen lẫn với châm biếm: “Chắc chắn là số tiền 10.000 bảng đó đã bị nôn ra bởi Giáo hội, vốn đã nuốt chửng nó? Nhưng các nhà thờ không dễ nôn ra những gì họ đã nuốt vào” (tr.63), hoặc: “Khoản tiền 42.000 bảng một năm sẽ mua được bao nhiêu hòa bình vào thời điểm hiện tại khi chúng ta đang chi 300.000.000 bảng mỗi năm cho vũ khí?” (tr.122).

Nhìn chung, bà đã tạo nên kết cấu của tác phẩm một cách khéo léo qua việc kết nối thành công những vấn đề rất khác nhau, tưởng chừng như không liên quan gì với nhau, đó là “chiến tranh” với “giáo dục”, “chiến tranh” với “nghề nghiệp chuyên môn”, và “chiến tranh” với “bảo vệ văn hóa và tự do trí tuệ”. Qua cách lý luận của bà, ta thấy rõ những vấn đề này có mối tương tác chặt chẽ với nhau. Cho đến nay, ở Việt Nam, tác phẩm “Ba đồng ghi-nê” của Virginia Woolf vẫn tiếp tục là một quyển sách hay, một tài liệu quý giá của những ai có quan tâm đến bình đẳng giới.

TP.HCM, tháng 9/2014

Lê Thị Hạnh

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.